Hiển thị các bài đăng có nhãn quy hoạch xây dựng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn quy hoạch xây dựng. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 19 tháng 7, 2015

Quy hoạch đô thị là gì? Kỹ năng của các nhà quy hoạch?

Nếu quy hoạch là tất cả, có thể nó chẳng là gì ! " - Aaron Wildavsky

Dưới đây là danh sách những kỹ năng mà nhà quy hoạch phải có, nếu muốn mình thành công (danh sách do Hiệp hội Quy hoạch Mỹ đưa ra):

quy-hoach-do-thi-la-gi-ky-nang-cua-cac-nha-quy-hoach

- Kiến thức về cấu trúc không gian đô thị (thiết kế cấu trúc vật thể) và cách thức mà đô thị hoạt động - Khả năng phân tích thông tin dân số như lao động, độ tuổi, sức khỏe - Kiến thức lập đồ án và đánh giá dự án - Nắm vững các tiến trình và chương trình đang diễn ra của địa phương, và cả ở cấp quốc gia - Nắm vững tác động môi trường và xã hội về quyết định quy hoạch lên cộng đồng - Khả năng làm việc với công chúng và cộng đồng đa dạng - Khả năng hoạt động như một người trung gian hòa giải khi xung đột lợi ích cộng đồng. - Hiểu biết về mối quan hệ giữa quy định sử dụng đất đai với dịch vụ - Thuần thục các công cụ GIS và các công cụ tin học khác - Kiến thức luật pháp về … mọi mặt liên quan - ….. v.v..

Nguyên nhân của một loạt các phẩm chất trên là do nghề quy hoạch ngày càng đòi hỏi những kỹ năng mới để đáp ứng với biến chuyển của xã hội đô thị. Đô thị biến đổi cấu trúc và không gian bên trong của nó hàng ngày cùng với tốc độ phát triển của các hoạt động sống bên trong như kinh tế, xã hội, giao thông. Trước kia ở giai đoạn đầu và giữa thế kỷ 20, quy hoạch đô thị được quan niệm như là thiết kế một đô thị, tổ chức, bố trí hình dạng vật thể của nó, giống như chúng ta thiết kế một cái máy vậy. Vai trò chính thực hiện quy hoạch được trao cho kiến trúc sư quy hoạch và kỹ sư xây dựng, những người được đào tạo và có chuyên môn về việc thiết kế nên những sản phẩm vật chất dành cho con người cư trú.

quy-hoach-do-thi-la-gi-ky-nang-cua-cac-nha-quy-hoach

Sản phẩm của quan niệm quy hoạch đô thị này là những bản quy hoạch tổng thể (master plan) đã vẽ nên trạng thái đô thị ở trạng thái cuối cùng theo ý tưởng của các kiến trúc sư. Trong đồ án tổng thể đó lại có bản vẽ sử dụng đất để chắc chắn rằng công trình và chức năng sử dụng của nó mới là trung tâm các hoạt động đô thị. Điều này dẫn tới quan niệm quy hoạch đô thị này tuy minh bạch, rõ ràng nhất nhưng khi vận dụng trở nên cứng nhắc, đặc biệt các đô thị cải tạo hay vấp phải sự khó khăn trong nguồn lực thực hiện hoặc các công cụ quản lý cần thiết.

Tuy nhiên vào thời điểm đó thì quan niệm này rất thời thượng vì nó phù hợp với mong muốn của các nhà quy hoạch hồi đó muốn xây dựng những cỗ máy đô thị đơn giản hiệu quả, thông thoáng sạch sẽ cho những vùng đô thị mới, nhất là cho những đô thị tái thiết sau khi thế chiến thứ hai tàn phá.

quy-hoach-do-thi-la-gi-ky-nang-cua-cac-nha-quy-hoach

Nhưng rồi thì hạn chế của quy hoạch đô thị theo quan niệm thiết kế hình dáng vật thể của đô thị ngày càng bộc lộ. Việc quét sạch các khu nhem nhuốc trong đô thị để xây dựng các đô thị mới đơn giản, cao tầng, khô khốc và mang “phong cách quốc tế”, tức là chẳng cần chút gì bản sắc địa phương, dẫn đến việc hủy hoại cả những cộng đồng địa phương đang rất phong phú về đời sống kinh tế xã hội. Dần dần người ta chối bỏ cách quy hoạch như vậy và phê phán các kiến trúc sư quy hoạch quá tập trung vào các ý tưởng, và công năng và thiết kế, mà bỏ qua việc tìm hiểu kỹ càng văn hóa và lối sống kinh tế xã hội tại địa phương. Năm 1961, cuốn sách Cái chết và cuộc sống của các thành phố lớn của Mỹ do Jane Jacobs viết phân tích và phản đối các chính sách cải tạo đô thị vào những năm 1950 của chính phủ Mỹ, cuốn sách luôn đứng thứ nhất như một tài liệu tham khảo về quy hoạch đô thị và tác giả của nó cũng luôn đứng vị trí số 1 trong những nhà lý luận về đô thị.

quy-hoach-do-thi-la-gi-ky-nang-cua-cac-nha-quy-hoach

Tiếp thu các lý luận phê bình và để thay thế cho quan niệm thiết kế hình dạng vật thể của đô thị, những năm 1960 xuất hiện hai quan niệm thay thế. Quan điểm thứ nhất là sửa chữa quan điểm trước kia, tức là người làm quy hoạch trước hết phải tìm hiểu thật kỹ về cuộc sống đô thị trước khi tiến hành thực hiện quy hoạch. Đô thị xem như một hệ thống các chức năng của các hoạt động và người dân ràng buộc nối kết với nhau. Và nhà quy hoạch phải hiểu đô thị như một hệ thống đang hoạt động sau đó mới can thiệp để tối ưu hóa hoạt động của hệ thống đó.

Quan điểm thay thế thứ hai là coi quy hoạch đô thị như một tiến trình tác động liên tục, can thiệp nhiều lần chứ không phải thiết kế và xây dựng một lần là đạt được trạng thái cuối cùng. Cách tiếp cận này là cách áp dụng lý thuyết và ra quyết định trong lĩnh vực khoa học về quản trị sang đối với quy hoạch đô thị. Theo đó thì sau khi xác định các vấn đề đô thị và các mục tiêu của quy hoạch, nhà quy hoạch sẽ cân nhắc các chính sách hoặc các quy hoạch thay thế sau đó thực hiện, khi thực hiện thì giám sát liên tục về hiệu quả thực hiện và tiến trình này sẽ luôn vận hành cho đến lúc đã cải tạo được trạng thái quy hoạch cũ hoặc xuất hiện vấn đề mới.

Qua hai cách nhìn này thì quy hoạch đô thị mang nhiều tính khoa học chính xác hơn tính thiết kế sáng tác và các nhà quy hoạch cần được đào tạo thêm nhiều kiến thức về kinh tế xã hội và địa lý. Xu hướng biến chuyển này về nhận thức của quy hoạch đô thị dẫn đến việc nguồn nhân lực cho công tác quy hoạch dịch chuyển dần khỏi các trường đào tạo về kiến trúc, kỹ sư mà chuyển sang các ngành đào tạo như địa lý học đô thị, kinh tế đô thị. Và cả kiến thức về môi trường, sinh thái sau này, khi những mối lo lắng về tác động xấu của con người tới môi trường tự nhiên thúc ép các nhà quy hoạch phải lồng ghép tiêu chuẩn sinh thái vào trong dự án của mình, với khát vọng hướng tới một mục tiêu phát triển bền vững.

Mô hình cũ thiết kế kiến trúc đô thị vẫn giữ một vị trí riêng cho mình, đặc biệt khi thiết kế những dự án quy hoạch đô thị mới. Thường thì thiết kế đô thị hay xuất hiện ở những giai đoạn mang tính hành động của cả tiến trình. Tuy nhiên ở một số nước như Việt Nam chẳng hạn, quan điểm cũ này vẫn tiếp tục giữ vai trò chủ đạo.

Những quan điểm nảy sinh thập kỷ 60 phía trên thường được gọi là quan điểm hệ thống hay duy lý, vì cái nhìn về quy hoạch đô thị vẫn xuất phát từ góc độ của cơ quan quản lý, từ trên xuống. Những lý luận dựa trên quan điểm đó lại một lần nữa bị phê phán từ góc độ cộng đồng, từ dưới lên. Những năm 60, khi các phong trào dân chủ, nhân quyền, nữ quyền diễn ra mạnh mẽ ở các nước phương tây thì quy hoạch đô thị cũng không là ngoại lệ. Người ta đặt các vấn đề quy hoạch phải có sự tham gia của cộng đồng địa phương, và ý kiến của những người dân phải có tầm quan trọng ngang với những nhà quy hoạch và quản lý. Vấn đề của quy hoạch là xây dựng một môi trường đô thị tốt để cho cộng đồng sinh hoạt, hướng tới cái phải đạt được chứ không phải hướng tới cái có thể đạt được. Một dự án quy hoạch đô thị ảnh hưởng khác nhau tới những nhóm xã hội trong cộng đồng, nên sẽ dẫn đến một sự đồng thuận chung, công khai để đạt được các giá trị chung, cân bằng giữa các nhu cầu của các nhóm. Như vậy quyết định quy hoạch không còn dựa trên ý chí của nhà quy hoạch hay cơ sở khoa học nữa, mà là một lựa chọn chính trị và giá trị đạt được. Tức là theo quan điểm này quy hoạch đô thị đã trở thành hoạt động chính trị. Và nhà quy hoạch sau khi dồn tâm sức nghiên cứu và thiết kế lập dự án, cần có thêm kỹ năng thuyết trình thuyết phục và làm việc với những nhóm xã hội khác nhau để cân bằng lợi ích giữa các nhóm.

quy-hoach-do-thi-la-gi-ky-nang-cua-cac-nha-quy-hoach

Nhưng làm việc với các nhóm cộng đồng vẫn là chưa đủ. Quy hoạch xây dựng đô thị là một dự án tốn kém và rất cần những nhà đầu tư về vốn, hoặc các nguồn lực khác. Thực tế là chính quyền không đủ ngân sách để xây dựng hết mọi nơi, hơn nữa, việc kêu gọi các nhà đầu tư tư nhân mang lại nhiều sáng kiến giá trị hơn rất nhiều là sự rập khuôn máy móc trong quản lý nhà nước. Và quan điểm này của quy hoạch đô thị dựa trên áp dụng những tính chất của nền kinh tế thị trường, trong đó nhà nước chỉ kiểm soát doanh nghiệp và đảm bảo lợi ích cộng đồng. Câu chuyện “tay ba” giữa chính quyền – nhà đầu tư- cộng đồng đã đẩy vị trí những người làm quy hoạch vào giữa bắt buộc họ phải trang bị thêm những kiến thức về quyền lợi và lợi ích đầu tư của các chủ sở hữu nguồn lực và có kỹ năng đàm phán, thỏa thuận để đảm bảo dự án hoạt động. Một dự án quy hoạch đô thị trở thành một bài toán về quản lý hoạt động hiệu quả hơn là chỉ đạo và lên kế hoạch, chính sách.

Như vậy kỹ năng của nhà quy hoạch trong vòng mấy chục năm đã phải thay đổi bổ sung rất nhiều do những đòi hỏi của một đô thị ngày càng phức tạp. Từ một người chuyên thiết kế trở thành một chuyên gia phân tích kinh tế, xã hội, môi trường sinh thái, có kỹ năng đàm phán thỏa thuận, làm việc với cộng đồng và các nhóm lợi ích khác nhau để đề xuất và thực hiện những phương án đạt được sự cân bằng lợi ích.

Năm 1973 Aaron Wildavsky nhà phân tích chính sách người Mỹ đã nói trong bài luận “Nếu quy hoạch là tất cả, có thể nó chẳng là gì” như sau: "Nhà quy hoạch đã trở thành nạn nhân của quy hoạch; sản phẩm do anh ta tạo ra đang chôn vùi chính anh ta. Quy hoạch trở nên quá rộng lớn đến nỗi nhà quy hoạch không thể bao trùm lên tất cả các chiều của nó. Quy hoạch trở nên quá phức tạp mà nhà quy hoạch không thể theo kịp. Quy hoạch loang rộng theo nhiều chiều mà nhà quy hoạch không còn nhận ra được hình thù của nó nữa. Anh ta có thể là nhà kinh tế, nhà khoa học chính trị, nhà xã hội học, kiến trúc sư và khoa học. Tuy nhiên anh ta đang thoát ra bản chất của cái-gọi-là-quy-hoạch. Anh ta tìm thấy nó ở mọi nơi nhưng không một nơi nào cụ thể."

Trần Quang (Blog dothi)

Thứ Tư, 1 tháng 7, 2015

Nhận thức lại các khái niệm trong Quy hoạch xây dựng

Thường thì người ta hay làm mọi việc theo thói quen, với các chuyên gia trong từng lĩnh vực, thói quen tư duy là một phần không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày của họ. Vậy thì thói quen, đôi khi phải được thử thách bằng cách câu hỏi về lý do tồn tại của nó. Bài viết này, cũng là một dạng như vậy, tự nhận thức lại.

Quy hoạch là gì?


Quy hoạch là một phạm vi rộng của sự hoạch định, quy hoạch xây dựng chú trọng vào việc hoạch định để xây dựng, vậy nên thay vì chúng ta cứ hỏi về các khái niệm quy hoạch xây dựng là gì, và cố gắng tìm cách định nghĩa chúng, thì hãy đặt câu hỏi về việc quy hoạch / hoạch định để làm gì. Quy hoạch là một công cụ để làm một việc có chủ đích, có thể dùng làm công cụ quản lý, có thể dùng làm đòn bẩy kích thích đầu tư, có thể dùng làm kế hoạch thực thi một ý định, hoặc cũng có thể là một công cụ giáo dục, tăng cường nhận thức của cộng đồng, hoặc thậm chí là một công cụ để phá hủy, đàn áp và hủy hoại môi trường. Hãy chú trọng vào mục đích, chứ không phải hình thức ngữ nghĩa.

nhan-thuc-lai-cac-khai-niem-trong-quy-hoach-xay-dung

Sơ đồ thể hiện sự định hướng nhận thức, mã hóa và luật hóa các thành phần quy hoạch theo thị giác chỉ để truyền tải thông điệp.

Bản chất của công việc quy hoạch là dự đoán, mà đã là dự đoán thì không thể lúc nào cũng đúng và cũng rất khó phát hiện sai, vì toàn bộ lập luận đều dựa trên những kinh nghiệm trong quá khứ, và những mong muốn khắc phục nó để không lặp lại sai lầm nữa. Điều này đòi hỏi phải sử dụng một loại tư duy khoa học về sự bất định và kiểm soát rủi ro, hơn và việc hoạch định các điều tốt và theo đuổi chúng, vì chúng có thể không thành hoặc chuyển biến thành các điều xấu, tùy theo cách định nghĩa của chúng ta.

Quy hoạch là để thực hiện và cho phép sửa sai


Sự tiếp tục thực hiện hoạch định kế hoạch dựa trên thống kê, chỉ tiêu và các đánh giá số liệu theo tư duy của phương Tây đã thống trị cái cách mà chúng ta thực hiện các đồ án quy hoạch xây dựng , thực tế, chúng ta đã thấy rằng, chưa bao giờ nó đúng đắn cả. Trong khi cơ chế của chúng ta lại không cho phép chúng ta sửa sai, mà thật ra, sửa sai phải nhanh hơn việc phạm sai lầm thì mới tiến bộ được.

Ở bất kỳ quy mô, phạm vi nào, công tác quy hoạch xây dựng là những thí điểm về ý tưởng phát triển, tập trung, phân tán và sử dụng các nguồn lực, trong bối cảnh cạnh tranh của các bên liên quan. Quy hoạch cho phép chúng ta thử nghiệm trên tất cả mọi vấn đề hiện hữu của đô thị, kể cả những khu vực đã ổn định và nhạy cảm, như các khu trung tâm tài chính, khu công viên, khu bảo tồn hay vùng sinh thái ẩm ướt.

nhan-thuc-lai-cac-khai-niem-trong-quy-hoach-xay-dung

Các kế hoạch tăng cường chất lượng cuộc sống và hạnh phúc con người luôn là kim chỉ Nam cho việc thực thi và sửa sai trong quy hoạch. Trong ảnh: Sự phát triển mạng lưới giao thông thân thiện cho Thủ đô Luân Đôn để xuất bởi Tập đoàn Foster and Partners

Việc phạm sai lầm và tạo điều kiện cho việc sửa sai và thích ứng với sự cạnh tranh, thay đổi và hòa nhập và điều kiện tiên quyết trong cách thực hiện các dự án quy hoạch, chúng ta hiểu ra ở phạm vi tác động lớn, sự tham gia của quá nhiều các bên liên quan, một mặt, cho phép chúng ta thu nhận nhiều ý kiến, nhưng đồng thời cũng hạn chế việc tiếp cận và ra các quyết định nhanh chóng để thực thi và tiếp tục giám sát sửa sai việc thực thi. Hãy chú trọng vào quá trình cho phép sự sửa đổi diễn ra, chứ không phải sự thực thi thiếu thực tế.

Hệ thống giao thông hủy hoại môi trường


Quy hoạch xây dựng vạch ra một lộ trình để lưu thông và giúp định hình các mô hình phát triển đã phổ biến, đã được chấp thuận hay quen thuộc với nhận thức của chúng ta ở thời điểm hiện tại. Hệ thống giao thông được hiểu là nhu cầu của sự tiếp nối, sử dụng các nguồn lực khác nhau ở từng vị trí, quy mô và tính chất. Tổng quát hơn, nó là hệ thống giúp tiêu thụ các nguồn tài nguyên không theo quy luật của tự nhiên, mà theo quy luật tổ chức của con người.

Cách thức tiếp cận mới, xem hệ thống giao thông là một lộ trình để bảo vệ môi trường, phân bổ lại việc sử dụng các nguồn tài nguyên tự nhiên theo đúng quy luật tự nhiên và vai trò của con người là một mắt xích cho sự di chuyển tích cực, đó là một hệ thống sản sinh nhiều hơn các giá trị lưu thông thuần túy, nhất là về khía cạnh đa dạng sinh học, môi trường, xã hội và kinh tế.

nhan-thuc-lai-cac-khai-niem-trong-quy-hoach-xay-dung

Chúng ta tạo ra đường xá để phục vụ chúng ta, và cũng phá hủy thiên nhiên đã, đang và sẽ phục vụ chúng ta. Đây không phải là cách thức phát triển bền vững.

Chúng ta hãy nhìn cách thức mà hệ thống giao thông phát triển trong sự hình thành các đô thị, để thấy rằng, sự lãng phí đầu tư rất lớn và việc phá hoại những đặc tính tự nhiên cơ bản của con người đang diễn ra trầm trọng, chúng ta không thích nghi với những gì có vận tốc di chuyển nhanh hơn chúng ta. Giao thông mà một lộ trình để làm việc và tiếp tục các sự việc trong thời gian sử dụng giao thông. Việc di chuyển và tính chất của hệ thống giao thông dần phải thay thế bằng việc không di chuyển quá vận tốc chuyển động tối đa của con người nhằm duy trì các sự cân bằng trong nhận thức và tâm sinh lý, trong khi việc sử dụng các nguồn tài nguyên được đảm bảo bằng.

Quy hoạch hệ thống giao thông, một mặt để giảm nhu cầu giao thông và đồng thời, sử dụng thời gian giao thông cho chính các hoạt động tích cực là một xu hướng, và đồng thới, làm rõ nhu cầu giao thông là một việc làm thiết yếu hàng ngày để bảo vệ môi trường. Trung bình, chúng ta dành 1/10 ngày cho việc di chuyển và tiêu tốn hơn 1/5 năng lượng cơ thể để thực hiện các hoạt động di chuyển này. Vì vậy, hãy nghĩ đến giá trị nó tạo ra nhiều hơn và việc thực thi nó một cách máy móc.

Hãy nghĩ đến đường xá là một loại không gian dùng để bảo vệ tự nhiên, giảm thiểu và hấp thụ ô nhiễm và trải nghiệm cuộc sống của con người, hơn là nơi chỉ để làm hao mòn lốp xe của bạn.

Sử dụng đất hay sử dụng công trình


Chúng ta đang hoạch định phát triển đô thị và các vùng tập trung dựa trên các cấu trúc phân khu và sử dụng đất vô cùng lạc hậu và cứng nhắc, mặc dù, có rất nhiều chuyên gia đang sử dụng nó.

Có nhiều cách tính toán và hoạch định các chức năng sử dụng đất, nhưng xét cho cùng, nó chịu sự chi phối và quyết định bởi công trình, tức là môi trường thực thể tồn tại trên nó, mà là công trình sản phẩm thì điều tiết thị trường.

nhan-thuc-lai-cac-khai-niem-trong-quy-hoach-xay-dung

Sử dụng đất, chính là việc hoạch định điều kiện tối thiểu sử dụng để bảo vệ môi trường một cách tốt nhất, chứ không phải là việc quy định cụ thể một hình thức nào. Sử dụng là một động từ hướng đến sự cụ thể, trong khi không sử dụng lại.

Đất đai là một công cụ, và công trình là mục đích, đừng lầm lẫn giữa công cụ và mục đích trong vấn đề đáp ứng nhu cầu theo thị trường. Một ví dụ rất dễ thấy, đó là các quy hoạch phân khu, thường hạn chế các nội dung liên quan đến dân cư, dẫn đến các nguồn nhà ở dễ khan hiếm, đẩy giá các dự án nhà ở lên cao hơn, tạo ra nhiều nguồn ô nhiễm hơn do phải sử dụng khoảng cách để di chuyển.

Tính chất tự nhiên của đất đai quyết định cái có thể xây dựng, nhu cầu quyết định cái sẽ xây dựng, và quy hoạch tạo ra một phạm vi cái không nên xây dựng.

KTS Trương Nam Thuận - Thiết kế quy hoạch cấp cao, Tập đoàn thiết kế Ong–Ong, Singapore

Thứ Tư, 24 tháng 6, 2015

Khái niệm, nhiệm vụ và yêu cầu của quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị

Khái niệm quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị


Quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị là việc cụ thể hóa nội dung của quy hoạch chung xây dựng đô thị, là cơ sở pháp lý để quản lý xây dựng công trình, cung cấp thông tin, cấp giấy phép xây dựng công trình, giao đất, cho thuê đất để triển khai các dự án đầu tư xây dựng công trình.

khai-niem-nhiem-vu-va-yeu-cau-cua-quy-hoach-chi-tiet-xay-dung-do-thi


Nhiệm vụ quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị


1. Uỷ ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm lập nhiệm vụ quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị căn cứ theo yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, yêu cầu quản lý xây dựng, yêu cầu của các chủ đầu tư xây dựng công trình và ý kiến của nhân dân trong khu vực quy hoạch, nhưng không được trái với quy hoạch chung xây dựng đô thị đã được phê duyệt.

2. Nội dung nhiệm vụ quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị bao gồm:

a) Yêu cầu diện tích sử dụng đất, quy mô, phạm vi quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/2000, thiết kế đô thị, thiết kế đồng bộ các công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội trong khu vực thiết kế; 

khai-niem-nhiem-vu-va-yeu-cau-cua-quy-hoach-chi-tiet-xay-dung-do-thi

b) Lập danh mục đề xuất biện pháp cải tạo cho những công trình cần giữ lại trong khu vực quy hoạch cải tạo;

c) Những yêu cầu khác đối với từng khu vực thiết kế.

Nội dung quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị


1. Quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị phải bảo đảm các nội dung chính sau đây:

a) Xác định mặt bằng, diện tích đất xây dựng các loại công trình trong khu vực lập quy hoạch đô thị;

b) Xác định chỉ giới đường đỏ, chỉ giới xây dựng, cốt xây dựng của các công trình hạ tầng kỹ thuật trong khu vực lập quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị; 

khai-niem-nhiem-vu-va-yeu-cau-cua-quy-hoach-chi-tiet-xay-dung-do-thi

c) Các giải pháp thiết kế về hệ thống các công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị, các biện pháp bảo đảm cảnh quan, môi trường sinh thái và các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật có liên quan;

d) Đối với các quy hoạch chi tiết cải tạo đô thị phải đề xuất các phương án cải tạo các công trình hiện có phù hợp với nhiệm vụ đề ra và phù hợp với quy hoạch chung xây dựng khu vực.

2. Quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị được lập trên bản đồ địa hình và bản đồ địa chính tỷ lệ 1/500 đến 1/2000 tùy theo nhiệm vụ quy hoạch đặt ra.

Điều chỉnh quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị


1. Quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị được điều chỉnh khi có một trong các trường hợp sau đây:

a) Quy hoạch chung xây dựng đô thị được điều chỉnh;

b) Cần khuyến khích, thu hút đầu tư. 

khai-niem-nhiem-vu-va-yeu-cau-cua-quy-hoach-chi-tiet-xay-dung-do-thi

2. Người có thẩm quyền phê duyệt quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị thì phê duyệt quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị đã được điều chỉnh.

3. Việc điều chỉnh quy hoạch xây dựng đô thị quy định tại điểm b khoản 1 Điều này phải lấy ý kiến của nhân dân trong khu vực lập quy hoạch chi tiết xây dựng và không được làm thay đổi lớn đến cơ cấu quy hoạch chung xây dựng.

Thứ Bảy, 25 tháng 4, 2015

Khái niệm về quy hoạch xây dựng đô thị

Quy hoạch xây dựng là việc tổ chức hoặc định hướng tổ chức không gian vùng, không gian đô thị và điểm dân cư, hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, tạo lập môi trường sống thích hợp cho người dân sống tại các vùng lãnh thổ đó, đảm bảo kết hợp hài hòa giữa lợi ích quốc gia và lợi ích cộng đồng, đáp ứng được các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường.

* Quy hoạch chi tiết 1/2000 & 1/500

khai-niem-ve-quy-hoach-xay-dung-do-thi

Khái niệm Quy hoạch xây dựng đô thị (theo nghị định 08/2005/NĐ-CP)

Quy hoạch xây dựng đô thị là việc tổ chức không gian kiến trúc và bố trí công trình trên một khu vực lãnh thổ trong từng thời kỳ, làm cơ sở pháp lý cho việc chuẩn bị đầu tư xây dựng, quản lý xây dựng và phát triển kinh tế xã hội.

Quy hoạch xây dựng đô thị gồm:

1. Quy hoạch vùng:


Đối tượng, giai đoạn và thời gian lập quy hoạch xây dựng vùng

Quy hoạch xây dựng vùng được lập cho các vùng có chức năng tổng hợp hoặc chuyên ngành gồm vùng trọng điểm, vùng liên tỉnh, vùng tỉnh, vùng liên huyện, vùng huyện, vùng công nghiệp, vùng đô thị lớn, vùng du lịch, nghỉ mát, vùng bảo vệ di sản cảnh quan thiên nhiên và các vùng khác do người có thẩm quyền quyết định.

khai-niem-ve-quy-hoach-xay-dung-do-thi

Quy hoạch xây dựng vùng được lập cho giai đoạn ngắn hạn là 05 năm, 10 năm; giai đoạn dài hạn là 20 năm và dài hơn. 

Đồ án Quy hoạch vùng thường được làm trên tỷ lệ 1/25.000 - 1/250.000.

Nội dung nhiệm vụ quy hoạch xây dựng vùng bao gồm :

a) Dự báo quy mô dân số đô thị, nông thôn phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của vùng và chiến lược phân bố dân cư của quốc gia cho giai đoạn 05 năm, 10 năm và dài hơn;

b) Tổ chức không gian các cơ sở công nghiệp chủ yếu, hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội trên phạm vi vùng theo từng giai đoạn phù hợp với tiềm năng và quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của vùng;

c) Tổ chức không gian hệ thống đô thị, điểm dân cư phù hợp với điều kiện địa lý, tự nhiên của từng khu vực bảo đảm quốc phòng, an ninh và việc khai thác tài nguyên thiên nhiên hợp lý của toàn vùng, dự báo tác động môi trường.

2. Quy hoạch chung đô thị


Đối tượng, giai đoạn và thời gian lập quy hoạch chung xây dựng đô thị

Quy hoạch chung xây dựng đô thị được lập cho các đô thị loại đặc biệt, loại 1, loại 2, loại 3, loại 4, loại 5, các quận của thành phố trực thuộc Trung ương, các đô thị mới liên tỉnh, đô thị mới có quy mô dân số tương đương với đô thị loại 5 trở lên, các khu công nghệ cao và khu kinh tế có chức năng đặc biệt.

Quy hoạch chung xây dựng đô thị được lập cho giai đoạn ngắn hạn là 05 năm, 10 năm; giai đoạn dài hạn là 20 năm.

khai-niem-ve-quy-hoach-xay-dung-do-thi

Đồ án Quy hoạch chung đô thị thường được làm trên tỷ lệ 1/5.000 - 1/25.000.

Nội dung nhiệm vụ quy hoạch chung xây dựng đô thị bao gồm:

a) Xác định tính chất của đô thị, quy mô dân số đô thị, định hướng phát triển không gian đô thị và các công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội trong đô thị theo các giai đoạn 05 năm, 10 năm và dự báo hướng phát triển của đô thị đến 20 năm;

b) Đối với quy hoạch chung xây dựng cải tạo đô thị, ngoài các nội dung quy định tại điểm a khoản 1 Điều này còn phải xác định những khu vực phải giải tỏa, những khu vực được giữ lại để chỉnh trang, những khu vực phải được bảo vệ và những yêu cầu cụ thể khác theo đặc điểm của từng đô thị.

3. Quy hoạch chi tiết


Đối tượng và thời gian lập quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị

Quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị được lập cho các khu chức năng trong đô thị và các khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu chế xuất, khu bảo tồn, di sản văn hóa, khu du lịch, nghỉ mát hoặc các khu khác đã được xác định; cải tạo chỉnh trang các khu hiện trạng của đô thị.

khai-niem-ve-quy-hoach-xay-dung-do-thi

Đồ án Quy hoạch chi tiết đô thị thường được làm trên tỷ lệ 1/2000 - 1/500.

Nhiệm vụ quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị

a) Xác định phạm vi ranh giới, diện tích khu vực để thiết kế quy hoạch chi tiết;

b) Xác định danh mục các công trình cần đầu tư xây dựng bao gồm: các công trình xây dựng mới, các công trình cần chỉnh trang, cải tạo, bảo tồn, tôn tạo trong khu vực quy hoạch; 

c) Xác định các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật chủ yếu về sử dụng đất, hạ tầng xã hội và hạ tầng kỹ thuật; các yêu cầu về không gian, kiến trúc, thiết kế đô thị và những yêu cầu khác đối với từng khu vực thiết kế.

Thứ Năm, 2 tháng 4, 2015

Quy hoạch chi tiết 1/2000 & 1/500

1. Theo quy định tại khoản 2 Điều 11 và khoản 2 Điều 24 của Luật Xây dựng thì quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị gồm hai loại, quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/2000 và quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500.

2. Việc phân loại nhằm đáp ứng mục tiêu cụ thể sau đây:

a) Quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/2000 là b­ước triển khai của quy hoạch chung xây dựng đô thị, là cơ sở cho việc triển khai lập và quản lý quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị tỷ lệ 1/500. Quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị tỷ lệ 1/2000 phải phù hợp với quy hoạch chung xây dựng đô thị và do chính quyền địa phương tổ chức lập.

quy-hoach-chi-tiet-12000-1500

b) Quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị tỷ lệ 1/500 là triển khai và cụ thể hoá quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị tỷ lệ 1/2000, là cơ sở để lập các dự án đầu tư­ xây dựng, cấp giấy phép xây dựng và quản lý đầu tư xây dựng theo quy hoạch. Quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị tỷ lệ 1/500 phải phù hợp với quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị tỷ lệ 1/2000. 

Quy hoạch chi tiết 1/500 của các dự án đầu tư xây dựng để kinh doanh do doanh nghiệp tổ chức lập và chi phí cho việc lập quy hoạch tính vào chi phí của dự án; còn lại các việc khác quy hoạch chi tiết 1/500 do chính quyền địa phương tổ chức lập để phục vụ cho công tác quản lý xây dựng, cấp giấy phép xây dựng.

3. Quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị

Quy hoạch xây dựng đô thị bao gồm nhiều công tác khác nhau, đó là quy hoạch vùng, quy hoạch chung, quy hoạch chi tiết và thiết kế đô thị. Trong quy hoạch chi tiết có quy hoạch chi tiết tỉ lệ 1/2000 và quy hoạch chi tiết 1/500.

Trước hết phải làm rõ và phân biệt ý nghĩa mục đích, nội dung nhiệm vụ của quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/2000 và quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500. Đây không phải là sự khác nhau về tỷ lệ bản đồ 1/2000 và 1/500, mà phải hiểu đây là 2 giai đoạn của quy hoạch chi tiết.

quy-hoach-chi-tiet-12000-1500
Quy hoạch chi tiết 1/2000 được lập ra để định hướng quy hoạch cho cả một khu đô thị (khu công nghiệp, khu chế xuất, khu nhà ở, khu du lịch... gọi chung là khu đô thị với mục đích là để quản lý quy hoạch cho cả một khu vực rộng lớn trong đô thị). Nội dung quan trọng trong đồ án quy hoạch chi tiết 1/2000 là xác định mạng lưới đường và quy hoạch sử dụng đất. Quy hoạch sử dụng đất phải chỉ ra được các ô phố với các chức năng sử dụng khác nhau, trong đó thể hiện rất rõ các chỉ tiêu của ô phố như diện tích ô đất, mật độ xây dựng, hệ số sử dụng đất, tầng cao tối đa, tầng cao tối thiểu, chỉ giới đường đỏ, sơ bộ xác định chỉ giới xây dựng (khoảng lùi) của công trình. 

Tổ chức không gian quy hoạch kiến trúc cảnh quan của đồ án quy hoạch chi tiết 1/2000 chỉ mang tính định hướng, gợi ý bởi vì ở giai đoạn này chưa có thiết kế cơ sở cho các công trình kiến trúc, cho nên chưa xác định thật cụ thể và chính xác thiết kế của các công trình kiến trúc.

Các cấp chính quyền, các cơ quan quản lý có đầy đủ điều kiện để cấp chứng chỉ quy hoạch cho bất kỳ một lô đất nào trong khu quy hoạch, và như vậy là hoàn toàn có thể sử dụng đồ án quy hoạch chi tiết 1/2000 để quản lý xây dựng.

Trong khi đó quy hoạch chi tiết 1/500 là phải chi tiết hoá đến từng công trình, quan trọng nhất của giai đoạn này và khác hẳn giai đoạn quy hoạch chi tiết 1/2000 là tổ chức không gian quy hoạch kiến trúc và cảnh quan. Ở giai đoạn này công trình kiến trúc đưa vào quy hoạch chi tiết tỉ lệ 1/500 là những công trình có thiết kế cơ sở, có nghĩa là có đầy đủ các yếu tố cần thiết cho một thiết kế công trình như hình dáng, mặt bẳng công trình với đầy đủ kích thước công trình, nội dung các phòng, các bộ phận của công trình, vị trí ra vào lối của công trình, từ đó xác định được mối quan hệ giữa công trình với các yếu tố bên ngoài như sân vườn, đường đi. Đồ án quy hoạch chi tiết 1/500 chính là cơ sở để lập dự án đầu tư xây dựng.

quy-hoach-chi-tiet-12000-1500

Như vậy quy hoạch chi tiết 1/2000 và 1/500 không phải chỉ khác nhau ở tỷ lệ, nó là ở hai giai đoạn thiết kế với nội dung, ý nghĩa hoàn toàn khác nhau, song những văn bản pháp quy hiện hành về lập quy hoạch xây dựng, về chi phí lập quy hoạch lại không có sự phân biệt giữa hai loại quy hoạch chi tiết trên. Xin nêu ra đây một vài điểm trong các văn bản mới ban hành hiện nay:

- Nghị định 08/2005/NĐ - CP ngày 24/01/2005 của Chính phủ về quy hoạch xây dựng. Như phân tích ở trên, thì quy hoạch chi tiết 1/2000 và 1/500 là rất khác nhau và mục đích, ý nghĩa của mỗi giai đoạn cũng rất khác nhau. Tuy nhiên, trong Nghị định 08/2005 kể trên, ở phần 3, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị. mục này đã gộp cả 2 loại quy hoạch chi tiết trên để trình bày trong các điều, cụ thể là:

Điều 21: Đối tượng và thời gian lập quy hoạch chi tiết.

Điều này lẽ ra phải nêu được cụ thể đối tượng của quy hoạch chi tiết 1/2000 và của quy hoạch chi tiết 1/500 là gì, khác nhau ở điểm nào. Một loại là để giúp các cấp chính quyền quản lý xây dựng theo quy hoạch (quản lý chỉ giới xây dựng, quản lý về sử dụng đất, quản lý về mật độ...). Một loại là gắn liền với dự án đầu tư xây dựng một khu đô thị.

Điều 22: Nhiệm vụ quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị.

Điều 23: Căn cứ lập quy hoạch chi tiết xây dựng.

Điều 24: Nội dung quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị.

Điều 25: Lấy ý kiến về quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị.

Cả 4 điều này không có gì khác nhau giữa quy hoạch chi tiết 1/2000 với quy hoạch chi tiết 1/500, cả 4 điều trên nên có sự phân biệt giữa hai loại quy hoạch chi tiết.

Mục lấy ý kiến, quy hoạch chi tiết 1/2000 và quy hoạch chi tiết tỉ lệ 1/500 là rất khác nhau. Trong quy hoạch chi tiết 1/2000 nên lấy ý kiến có tính chất định hướng cho cả một khu vực lớn trong đô thị. Chủ yếu là về mạng lưới giao thông và quy hoạch sử dụng đất và đóng góp ý kiến là cho chính quyền các cấp và các nhà quản lý. Còn trên quy hoạch chi tiết 1/500 thì cần đóng góp ý kiến có tính chất cụ thể và chủ yếu cho các chủ đầu tư dự án.

Riêng điều 26 về hồ sơ thiết kế, tuy có một chút về điểm khác giữa quy hoạch chi tiết 1/2000 và quy hoạch chi tiết 1/500, tuy nhiên cũng chỉ nói rằng đối với quy hoạch chi tiết 1/2000 hồ sơ gồm... đối với quy hoạch chi tiết 1/500 hồ sơ gồm... điều này sẽ làm cho người đọc cảm nhận như quy hoạch chi tiết 1/2000 và 1/500 là 2 trường hợp khác nhau, chứ không phải là 2 giai đoạn khác nhau và cho 2 đối tượng khác nhau.

Trong Nghị định 08, nên có một mục riêng về quy hoạch chi tiết 1/2000 và 1/500, như vậy mới phân biệt một cách rõ ràng cho 2 đồ án này. Nên chăng đưa ra hai tên khác nhau của 2 loại quy hoạch chi tiết này.

Đồ án quy hoạch chi tiết 1/2000 gọi là đồ án quy hoạch chi tiết còn đồ án quy hoạch chi tiết 1/500 gọi là đồ án quy hoạch xây dựng.

quy-hoach-chi-tiet-12000-1500

Dự án đầu tư xây dựng có nhiều cách phân loại, theo quy mô và tầm quan trọng có dự án nhóm A, nhóm B, nhóm C, theo tính chất thì có thể phân ra dự án khu đô thị mới, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu vui chơi giải trí... còn về quan hệ giữa quy hoạch và dự án đầu tư, có thể tạm chia thành hai loại.

Loại thứ nhất là dự án đầu tư xây dựng được lập cho một công trình đơn lẻ nằm trong khu vực quy hoạch. Thí dụ một khu đô thị trong đó có nhiều công trình với những chức năng khác nhau như khách sạn, bệnh

viện, trường đại học, siêu thị. Trường hợp này, mỗi công trình là một chủ đầu tư khác nhau, sử dụng nguồn vốn cũng khác nhau và không làm thiết kế cơ sở cùng một lúc. Trong trường hợp như thế chỉ nên làm quy hoạch chi tiết 1/2000, trong đó chỉ ra các ô đất cho các công trình và các chỉ tiêu quy hoạch cho các ô đất đó, đồng thời xác định chỉ giới đường đỏ, chỉ giới xây dựng cho từng công trình, cao độ khống chế... như vậy là hoàn toàn có thể quản lý xây dựng theo quy hoạch. Sau đó từng chủ đầu tư của từng công trình sẽ tiến hành lập dự án đầu tư xây dựng cho công trình của mình, trường hợp này không nên lập quy hoạch chi tiết 1/500.

Loại thứ hai là Dự án đầu tư xây dựng tương ứng với một đồ án quy hoạch chi tiết 1/500, nghĩa là đồ án quy hoạch chi tiết 1/500 được lập trên một khu đô thị mà toàn bộ khu đô thị đó là một đơn vị đầu tư, thí dụ như đầu tưu xây dựng một khu chung cư, một khu ký túc xá, một khu trường đại học... Trường hợp này thì nhất thiết phải lập quy hoạch chi tiết 1/500. Dựa trên định hướng của quy hoạch chi tiết 1/2000, đơn vị tư vấn sẽ tiến hành thiết kế cơ sở. Trên cơ sở của thiết kế cơ sở, sẽ lập đồ án quy hoạch chi tiết 1/500 và dự án đầu tư xây dựng.

quy-hoach-chi-tiet-12000-1500

Chẳng hạn lập dự án đầu tư xây dựng cho một khu chung cư, trong đó có các nhà chung cư cao tầng, các công trình công cộng, khu cây xanh... Trước tiên là căn cứ đồ án quy hoạch chi tiết 1/2000 với những chỉ tiêu quy hoạch đã khống chế, đơn vị tưu vấn lập thiết kế cơ sở cho các nhà chung cư cũng như các công trình công cộng sẽ xây dựng trong khu chưng cư này, trên cơ sở đó tư vấn mới lập quy hoạch chi tiết 1/500. 

Hồ sơ thiết kế cơ sở các công trình kiến trúc và đồ án quy hoạch chi tiết 1/500 này chính là nội dung quan trọng của dự án đầu tư xây dựng.

Đối với khu công nghiệp, khu chế xuất thì dự án đầu tư xây dựng là dự án đầu tư xây dựng hạ tầng, còn việc đầu tư xây dựng từng công trình nhà máy lại là do từng chủ đầu tư riêng biệt chịu trách nhiệm. Trong trường hợp này cơ quan chủ đầu tư cũng phải tiến hành Lập dự án đầu tư của từng doanh nghiệp sẽ căn cứ vào dự án này để thiết kế xây dựng khu công trình của mình.

Như vậy, một trong những việc phải làm của công tác quy hoạch xây dựng là quy hoạch chi tiết, trong đó quy hoạch chi tiết 1/2000 và 1/500 là 2 việc rất khác nhau về mục đích, ý nghĩa của đồ án, một việc là phục vụ công tác quản lý xây dựng theo quy hoạch, một việc là phục vụ trực tiếp cho công tác lập dự án đầu tư xây dựng.

Thứ Hai, 29 tháng 12, 2014

Quy hoạch xây dựng vùng TP.HCM: “Ý tưởng về bộ lọc”

Quy hoạch xây dựng vùng TP.HCM đã được tổ chức triển khai thực hiện ngay sau khi Thủ tướng Chính phê duyệt Quyết định số 589/QĐ-TTg ngày 20/5/2008. Sau hơn 4 năm triển khai thực hiện, đã phát sinh những tồn tại, bất cập cần bổ sung điều chỉnh đối với công tác quy hoạch xây dựng, đảm bảo tính khả thi của quy hoạch.

quy-hoach-xay-dung-vung-tphcm-y-tuong-ve-bo-loc

Khác với đồ án quy hoạch xây dựng (QHXD) vùng TP.HCM được phê duyệt năm 2008, lần này đơn vị tư vấn lập đồ án điều chỉnh quy hoạch là Viện Quy hoạch Xây dựng Miền Nam đã mời tư vấn quốc tế hợp tác. Hiện nay, công tác này đang ở giai đoạn nghiên cứu nhưng đồ án đã nhận được rất nhiều ý kiến đóng góp của các chuyên gia, nhà quản lý trong nước và quốc tế, nhằm điều chỉnh QHXD vùng TP.HCM đạt được hiệu quả và chất lượng cao.

Còn nhiều bất cập


Thẳng thắn nhìn nhận những tồn tại của công tác thực hiện quy hoạch Vùng TP.HCM, ông Ngô Quang Hùng - Phó viện trưởng Viện QHXD Miền Nam cho biết: Cấu trúc không gian vùng chưa hình thành theo đúng định hướng quy hoạch được phê duyệt, các tỉnh thành phát triển thiếu liên kết, đô thị hóa nhanh nhưng thiếu kiểm soát, môi trường ô nhiễm… Và hơn hết, thiếu một cơ quan chỉ đạo thống nhất về thực hiện các chiến lược phát triển vùng.

GS Frank Schank Schwartze - Trưởng nhóm Tư vấn quốc tế cho vùng TP.HCM đã cho biết, vùng TP.HCM cần phải điều chỉnh QHXD, bởi từ năm 2008 tới nay tình trạng gia tăng dân số cơ học do di cư, đặc biệt hiện trạng của Vùng TP.HCM có nhiều hạn chế như đô thị phát triển tự phát dẫn tới quá tải trong hệ thống giao thông, hạ tầng chung không đủ, ngập lụt ngày càng nặng nề và sự thiếu hợp tác giữa các tỉnh trong vùng, hợp tác liên vùng.

Nhìn nhận của TS Huỳnh Thế Du - Giảng viên chương trình Kinh tế Fulbright ngược với nhiều ý kiến khác: Đô thị TP.HCM, TP Hà Nội kém xa với các đô thị trong cùng khu vực bởi sự hợp tác, phát triển giữa các địa phương trong vùng có những nhân tố giống nhau và có thể bổ trợ lẫn nhau. Vì thế cần tìm ra cơ chế liên kết vùng hữu hiệu là điều hết sức cần thiết và cấp bách và quy hoạch phát triển vùng trong đó các hoạt động kinh tế đóng vai trò quan trọng là then chốt. Nhìn nhận được những bất cập hiện tại của vùng TP.HCM đã thu hút sự quan tâm của rất nhiều nhà khoa học, chuyên gia trong nước và quốc tế, tất cả đều mong muốn vùng TP.HCM phải có một mô hình phát triển bền vững, khẳng định vị thế không chỉ trong nước mà cả quốc tế.

Nhóm tư vấn quốc tế cho vùng TP.HCM nhận định: Ý tưởng QHXD Vùng TP.HCM được phê duyệt năm 2008 được gọi tên là “Sao biển” với mục tiêu tạo lập hệ thống bao trùm nhằm đóng vai trò định hướng cho quy hoạch, thực hiện quản lý kinh tế, lãnh thổ các khu vực đô thị, các KCN, các khu dân cư nông thôn và các khu đặc thù trong vùng nhằm phát triển hài hòa bền vững. Đóng vai trò là công cụ quản lý phát triển vùng trong trình tự khai phá các tiềm năng, giải quyết các hạn chế hiện hữu trong phát triển vùng.

Sau quá trình nghiên cứu, các nhà tư vấn quốc tế đã đặt tên cho ý tưởng điều chỉnh quy hoạch vùng TP.HCM là “ý tưởng về bộ lọc”. Theo TS Stefan Elsing - chuyên gia về phát triển hạ tầng kỹ thuật vùng thì: “Ý tưởng về bộ lọc” hay còn gọi là “góc nhìn” gồm bốn vấn đề: Sử dụng tài nguyên hiệu quả; phát triển kinh tế - xã hội; hạ tầng và sinh thái. Từ “bộ lọc” này để xác định các vấn đề và thách thức, mỗi “bộ lọc” tập trung một cách tổng quát về sự tương tác của các ngành, xác định chủ đề thay vì tiếp cận theo ngành.

Lưu ý tới ý kiến của lãnh đạo các địa phương trong vùng (Thứ trưởng Bộ Xây dựng Phan Thị Mỹ Linh)

Đánh giá cao các nghiên cứu của các chuyên gia trong nước và quốc tế, tuy nhiên vẫn cần tiếp thu những ý kiến từ các nhà khoa học, chuyên gia đã phân tích các vấn đề liên quan tới điều chỉnh QHXD vùng TP.HCM từ các góc độ khác nhau trong sự phát triển kinh tế của Việt Nam chứ không phải của từng tỉnh, thành trong vùng TP.HCM. Khi đã khẳng định vùng TP.HCM là vùng kinh tế lớn của Đông Nam Á thì vai trò, thách thức của việc kết nối là sự bất cập trong việc phát triển kinh tế. Đề nghị các chuyên gia nghiên cứu định hướng kỹ tính liên kết vùng theo từng phương án phát triển tập trung hay phát triển đa cực. Thứ trưởng cũng thẳng thắn góp ý về nội dung đánh giá thực trạng của TP.HCM mà chưa có đánh giá sâu hơn đối với các tỉnh còn lại bởi sự thiếu hụt thông tin để các nhà lập quy hoạch đưa ra những định hướng xác đáng. Vì thế, chúng ta cần có sự đầu tư, tham khảo ý kiến của lãnh đạo các tỉnh trong vùng để làm rõ đặc thù của từng tỉnh từ đó đảm bảo tính khả thi của quy hoạch được điều chỉnh.

Cần thể chế quản lý quy hoạch vùng (Ông Vũ Trọng Bình - Vụ Địa phương, Ban Kinh tế Trung ương):

Sức cạnh tranh của TP.HCM đang yếu hơn so với các đô thị khác trong khu vực, vậy làm thế nào để TP.HCM và vùng TP.HCM có 1 thể chế có sức cạnh tranh nhất trong khu vực, đây là vấn đề cần chú trọng trước khi có quy hoạch và phát triển.

Quy hoạch là hiện thức hóa những chiến lược phát triển và mô hình tăng trưởng. Vì vậy TP.HCM sẽ chọn mô hình tăng trưởng nào? Trong vùng TP.HCM sẽ phân vai như thế nào? Liên kết như thế nào? Khi xác định được những vấn đề này thì mới có căn cứ làm tiền đề cho quy hoạch. Bên cạnh đó chúng ta cũng cần có thể chế cho quy hoạch liên vùng.

Còn nhiều nút thắt trong thực hiện quy hoạch vùng (Ông Nguyễn Thanh Nguyên - Phó chủ tịch tỉnh Long An)

Từ năm 2008 tới nay, tôi thấy cái khó lớn nhất để thực hiện quy hoạch vùng vẫn là cơ chế quản lý vùng và lãnh thổ, đây chính là nút thắt về quản lý khi thực hiện QHXD vùng như giao thông, đầu tư xây dựng KCN. Tôi đề nghị nếu đã xem vùng có ý nghĩa quan trọng để điều phối phát triển chung thì phải có cơ chế quản lý vùng.

Nối kết hạ tầng rất quan trọng trong quy hoạch vùng bởi nếu sự sắp xếp hợp lý sẽ chống lãng phí. Hiện nay, KĐT, KCN phát triển vô tội vạ, không có sự tích hợp của cả khu vực, lĩnh vực sao cho phù hợp với thực tế, đặc biệt các vấn đề liên quan tới con người như việc làm, thu nhập…

Mỗi tỉnh đều có lộ trình phát triển kinh tế - xã hội, đô thị hóa, công nghiệp hóa theo nhiệm vụ trong vùng thì Long An chỉ tập trung phát triển nông nghiệp, còn công nghiệp thì để phát triển phía Đông, Bắc của vùng. Trong khi đó, Chính phủ lại giao cho tỉnh phải tăng doanh thu ngân sách, chính vì thế các tỉnh phải làm theo nhu cầu riêng của mình. Đây là một nút thắt cần các nhà làm quy hoạch chú ý.


Mai Thanh/ Báo xây dựng

Thứ Bảy, 20 tháng 12, 2014

Hội thảo quốc tế Ý tưởng điều chỉnh quy hoạch xây dựng vùng TP.HCM

Ngày 19/12, tại TP. HCM dưới sự chỉ đạo của Bộ Xây dựng, Viện Quy hoạch Xây dựng Miền Nam đã tổ chức Hội thảo quốc tế Ý tưởng điều chỉnh quy hoạch xây dựng vùng TP.HCM.


Theo ông Ngô Quang Hùng - Phó Viện trưởng Viện Quy hoạch Xây dựng Miền Nam, sở dĩ QHXD vùng TP.HCM phải điều chỉnh là để nâng cao vai trò vị thế của vùng TP.HCM trên thế giới và tăng cường kết nối với các vùng kinh tế đô thị trong khu vực Đông Nam Á và Đông Á.

QHXD vùng phải kết nối với các chiến lược phát triển mới của quốc gia và các quy hoạch ngành cấp quốc gia và vùng. QHXD vùng điều chỉnh lần này sẽ khắc phục các hạn chế trong định hướng phát triển không gian và các tồn tại bất cập trong thực trạng phát triển vùng; tăng cường tính liên kết vùng và tích hợp với các quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch sử dụng đất và các quy hoạch ngành của vùng TP.HCM và các tỉnh trong vùng, đồng thời để thích ứng với biến đổi khí hậu.

Tại Hội thảo, các chuyên gia đã thẳng thắn đánh giá thực trạng, dự báo quá trình phát triển của vùng TP.HCM, những vấn cần giải quyết và cách giải quyết... Nhiều ý kiến còn gây tranh cãi, nhưng tựu trung đều mong muốn xây dựng vùng TP.HCM phát triển theo hướng bền vững.

Phát biểu tại Hội thảo, Thứ trưởng Bộ Xây dựng Phan Thị Mỹ Linh khẳng định: Việc tham khảo các ý tưởng, kinh nghiệm từ các nhà quản lý các cấp, các chuyên gia nước ngoài… là cần thiết và có ý nghĩa quan trọng bởi nội dung điều chỉnh quy hoạch xây dựng vùng TP.HCM có đạt được hiệu quả và chất lượng cao ngay từ giai đoạn đầu của quá trình lập điều chỉnh quy hoạch là phải có sự đóng góp của các nhà quản lý và các chuyên gia có chuyên môn, có kinh nghiệm. Bộ Xây dựng mong muốn quy tụ được những ý kiến, kinh nghiệm, phương án tiếp cận mới nhất, có hiệu quả nhất từ các chuyên gia và các nhà quản lý đại diện các chính quyền địa phương trong vùng để công tác lập điều chỉnh QHXD vùng TP.HCM đạt hiệu quả cao nhất.


Theo : Báo Xây dựng điện tử

Bài đăng phổ biến